Giá vàng trong nước mở đầu năm 2026 quanh 152,8 triệu đồng/lượng; người mua từ đầu 2025 lãi hơn 70 triệu, trong bối cảnh vàng thế giới điều chỉnh và kim loại quý vẫn hút dòng tiền.
Giá vàng hôm nay 01/01/2026: Mở màn năm mới quanh mốc 152,8 triệu đồng/lượng, nhà đầu tư ôm vàng từ đầu 2025 “bỏ túi” hơn 70 triệu
Bước sang ngày đầu tiên của năm 2026, thị trường vàng trong nước ghi nhận nhịp điều chỉnh nhẹ sau chuỗi tăng nóng trước đó. Dù không còn đứng ở vùng đỉnh cao nhất, giá bán ra của vàng miếng SJC vẫn duy trì quanh mốc 152,8 triệu đồng/lượng tại nhiều hệ thống lớn. Đáng chú ý, nếu nhìn lại mặt bằng giá đầu năm 2025, những người xuống tiền sớm vẫn đang sở hữu mức lợi nhuận rất ấn tượng, phổ biến trên 70 triệu đồng mỗi lượng, tùy thương hiệu.
Tại Công ty SJC, giá vàng miếng SJC sáng 01/01 được niêm yết mua vào 150,8 triệu đồng/lượng và bán ra 152,8 triệu đồng/lượng. So với thời điểm đầu năm 2025, khi giá mua – bán chỉ quanh 82,2 – 84,2 triệu đồng/lượng, người mua hiện ghi nhận khoản lãi lên tới khoảng 70,6 triệu đồng/lượng.
Biểu đồ giá vàng 30 ngày gần nhất
Cùng thời điểm, Tập đoàn DOJI cũng điều chỉnh giá vàng miếng SJC về mức mua vào 150,8 triệu đồng/lượng và bán ra 152,8 triệu đồng/lượng (cập nhật lúc 04h00). Nếu nắm giữ vàng từ đầu năm 2025, mức sinh lời tại DOJI hiện tương đương khoảng 70,6 triệu đồng/lượng.
Ở chiều giá có phần nhỉnh hơn, hệ thống Mi Hồng ghi nhận giá mua vào đầu năm 2026 ở mức 151,5 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra vẫn giữ tại 152,8 triệu đồng/lượng. So với mặt bằng đầu năm trước, nhà đầu tư mua vàng tại Mi Hồng đang có mức lãi xấp xỉ 69 triệu đồng/lượng.
Tại PNJ, trước giờ giao dịch ngày 01/01/2026, giá vàng miếng SJC được niêm yết mua vào 150,8 triệu đồng/lượng và bán ra 152,8 triệu đồng/lượng. Đặt lên bàn cân với mức giá đầu năm 2025 (82,2 – 84,4 triệu đồng/lượng), khoản chênh lệch hiện mang lại lợi nhuận khoảng 70,6 triệu đồng/lượng cho người nắm giữ.
Trong khi đó, Bảo Tín Minh Châu cũng không nằm ngoài xu hướng chung khi niêm yết giá vàng miếng SJC (lúc 04h00) ở mức 150,8 triệu đồng/lượng chiều mua vào và 152,8 triệu đồng/lượng chiều bán ra. So với đầu năm 2025, mức lãi mà người mua đạt được vào thời điểm này khoảng 70,6 triệu đồng/lượng.
Khép lại bảng giá, Phú Quý niêm yết vàng miếng SJC đầu năm mới với giá mua vào 150,3 triệu đồng/lượng và bán ra 152,8 triệu đồng/lượng. Nếu so với mức giá đầu năm 2025 tại chính thương hiệu này (82,4 – 84,4 triệu đồng/lượng), nhà đầu tư đang lãi khoảng 70,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay
Ngày 01/01/2026
(Triệu đồng)
Chênh lệch
(nghìn đồng/lượng)
Mua vào
Bán ra
Mua vào
Bán ra
SJC
150,8
152,8
–
–
Tập đoàn DOJI
150,8
154,7
–
–
Mi Hồng
151,5
154,7
–
–
PNJ
150,8
154,7
–
–
Bảo Tín Minh Châu
150,8
154,7
–
–
Phú Quý
150,3
154,7
–
–
1. DOJI – Cập nhật: 01/01/2026 11:30 – Thời gian website nguồn cung cấp – ▼/▲ So với ngày hôm qua.
Loại
Mua vào
Bán ra
AVPL/SJC HN
150.800 –
152.800 –
AVPL/SJC HCM
150.800 –
152.800 –
AVPL/SJC ĐN
150.800 –
152.800 –
2. PNJ – Cập nhật: 01/01/2026 11:30 – Thời gian website nguồn cung cấp – ▼/▲ So với ngày hôm qua.
Khu vực
Mua vào
Bán ra
TPHCM – PNJ
150.800 –
152.800 –
Hà Nội – PNJ
150.800 –
152.800 –
Đà Nẵng – PNJ
150.800 –
152.800 –
Miền Tây – PNJ
150.800 –
152.800 –
Tây Nguyên – PNJ
150.800 –
152.800 –
Đông Nam Bộ – PNJ
150.800 –
152.800 –
3. AJC – Cập nhật: 01/01/2026 11:30 – Thời gian website nguồn cung cấp – ▼/▲ So với ngày hôm qua.
Loại
Mua vào
Bán ra
Miếng SJC Hà Nội
15,080 –
15,280 –
Miếng SJC Nghệ An
15,080 –
15,280 –
Miếng SJC Thái Bình
15,080 –
15,280 –
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội
15,200
15,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An
15,200
15,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình
15,200
15,500
NL 99.99
14,600 –
–
Nhẫn tròn ko ép vỉ T.Bình
14,600 –
–
Trang sức 99.9
14,790
15,390
Trang sức 99.99
14,800
15,400
4. SJC – Cập nhật: 01/01/2026 11:30 – Thời gian website nguồn cung cấp – ▼/▲ So với ngày hôm qua.
Loại
Mua vào
Bán ra
Vàng SJC 1L, 10L, 1KG
150.800 –
152.800 –
Vàng SJC 5 chỉ
150.800 –
152.820 –
Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ
150.800 –
152.830 –
Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ
145.900 –
148.900 –
Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ
145.900 –
149.000 –
Nữ trang 99,99%
143.900 –
147.400 –
Nữ trang 99%
140.440 –
145.940 –
Nữ trang 68%
91.892 –
100.392 –
Nữ trang 41,7%
53.121 –
61.621 –
Giá vàng nhẫn 9999 mở đầu năm mới mức giá an toàn, vượt đỉnh 150 triệu đồng/lượng
Cùng thời điểm lúc 06h00, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng của DOJI được niêm yết ở mức 150,0 triệu đồng/lượng (mua) và 152,0 triệu đồng/lượng (bán), ghi nhận chưa ghi nhận diễn biến mới ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với ngày hôm qua, với mức chênh lệch 2 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu giữ giá vàng nhẫn có mức giá mua vào là 152,0 triệu đồng/lượng, giá bán ra ở 155,0 triệu đồng/lượng, đang đi ngang ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên trước, chênh lệch giữa hai chiều mua – bán tiếp tục ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Phú Quý cũng niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 150,0 triệu đồng/lượng (mua) và 153,0 triệu đồng/lượng (bán), không có diễn biến mới ở cả 2 chiều mua và bán so với ngày hôm qua, chênh lệch mua – bán ổn định ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thế giới giảm sâu xuống sát đỉnh 4.300 USD/Ounce
Tính đến 11h30 ngày 01/01/2026 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay mức 4.317,6 USD/ounce. Ghi nhận giảm 20,1 USD/ounce so với ngày hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank (26.377 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 138,2 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). So sánh với giá vàng miếng SJC trong nước cùng ngày (150,8-152,8 triệu đồng/lượng), giá vàng SJC hiện cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 14,6 triệu.
Thị trường kim loại quý đang khép lại năm giao dịch bằng một dấu son rực rỡ hiếm thấy. Trong phiên ngày thứ Tư, vàng, bạc và bạch kim đồng loạt bứt phá, liên tiếp xác lập những kỷ lục mới, cho thấy dòng tiền trú ẩn đang đổ mạnh vào nhóm tài sản an toàn giữa bối cảnh toàn cầu nhiều bất ổn.
Sức bật của kim loại quý không đến từ một yếu tố đơn lẻ, mà là sự cộng hưởng của hàng loạt động lực quan trọng: chu kỳ cắt giảm lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), căng thẳng địa chính trị chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, lực mua bền bỉ từ các ngân hàng trung ương và dòng vốn đều đặn chảy vào các quỹ ETF. Khi mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp, vàng – dù không tạo ra lợi suất – lại càng phát huy vai trò “hầm trú ẩn” quen thuộc của giới đầu tư.
Trong ngắn hạn, thị trường ghi nhận nhịp điều chỉnh khi nhà đầu tư tranh thủ hiện thực hóa lợi nhuận, đặc biệt sau động thái CME nâng yêu cầu ký quỹ đối với hợp đồng tương lai kim loại quý. Tuy nhiên, bức tranh dài hạn vẫn được giới phân tích đánh giá tích cực. Theo ông Edward Meir, chuyên gia của Marex, những dao động nhất thời là điều khó tránh, nhưng xu hướng chủ đạo vẫn nghiêng về phía tăng trong năm tới. Ông nhận định vàng hoàn toàn có dư địa tiến tới mốc 5.000 USD/ounce, còn bạc có thể áp sát vùng 100 USD/ounce.
Thực tế cho thấy bạc đang nổi lên như tâm điểm của thị trường. Tính từ đầu năm, kim loại này đã tăng hơn 147%, vượt xa mức tăng của vàng và thiết lập kỷ lục tăng trưởng chưa từng có. Sự khan hiếm nguồn cung, tồn kho ở mức thấp, nhu cầu công nghiệp lẫn đầu tư đồng loạt gia tăng, cùng việc Mỹ đưa bạc vào danh sách khoáng sản chiến lược đã tạo lực đẩy mạnh mẽ cho giá. Dù vậy, trong phiên gần nhất, bạc điều chỉnh 6,7% xuống 71,36 USD/ounce, sau khi vừa chạm đỉnh lịch sử 83,62 USD/ounce hồi đầu tuần.
Bạch kim cũng ghi nhận một năm bùng nổ không kém. Giá kim loại này lùi 8,7% về 2.006,95 USD/ounce sau khi lập đỉnh mọi thời đại 2.478,50 USD/ounce. Tính chung cả năm, bạch kim vẫn tăng hơn 122%, đánh dấu năm tăng giá mạnh nhất trong lịch sử. Palladium cũng để lại dấu ấn khi tăng trên 75% trong năm – mức tăng tốt nhất trong vòng 15 năm – dù phiên gần nhất điều chỉnh nhẹ xuống 1.577,75 USD/ounce.
Theo ông Meir, nhóm kim loại thuộc họ bạch kim (PGMs) nhiều khả năng sẽ tiếp tục vận động cùng nhịp với vàng và bạc. Dù thường phản ứng chậm hơn do gắn chặt với hoạt động sản xuất công nghiệp và ngành ô tô, nhưng khi dòng vốn bắt đầu luân chuyển, các kim loại này thường tăng tốc khá nhanh để bắt kịp xu hướng chung.
Trong bối cảnh thị trường đang đặt cược vào khả năng Fed sẽ tiếp tục hạ lãi suất thêm hai lần trong năm 2026, môi trường vĩ mô hiện tại được xem là khá “thuận gió” cho kim loại quý. Trong đó, vàng nhiều khả năng vẫn giữ vai trò dẫn dắt, còn bạc và nhóm PGMs tiếp tục là những quân bài tiềm năng trên bàn cờ đầu tư toàn cầu.